Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam đề xuất Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn, tái chiết khấu chuyên biệt dành riêng cho các NHTM tích cực giải ngân cho khối DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và xuất khẩu. Lãi suất tái cấp vốn ưu đãi này sẽ được chuyển hóa trực tiếp thành mức giảm lãi suất cho vay thực tế cho nhóm SME.

Ảnh minh họa
Trong công tác phối hợp chuẩn bị cho Hội nghị Đẩy mạnh triển khai các giải pháp tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) do Ngân hàng Nhà nước triển khai, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam đã có một số kiến nghị liên quan đến giải pháp khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp SME.
Tỷ lệ doanh nghiệp SME tiếp cận được vốn vay ngân hàng chỉ ở mức 8,8%
Theo văn bản gửi đến NHNN, dựa trên các báo cáo thực tế mới nhất tính đến tháng 8/2026 và khảo sát diện rộng của các tổ chức trung gian, nghiên cứu; Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam đánh giá bức tranh tài chính và khả năng tiếp cận vốn của khối doanh nghiệp SME đang còn một số điểm nghẽn mang tính cấu trúc.
Thứ nhất, đây là nhóm chiếm tỷ trọng lớn (900.000 doanh nghiệp, chiếm 94% tổng số doanh nghiệp hoạt động, sử dụng 6,6 triệu lao động) nhưng đóng góp và sức chống chịu còn hạn chế. Theo báo cáo, khu vực này đóng góp chưa đến 20% tổng doanh thu toàn xã hội và chỉ chiếm khoảng 8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Sức chống chịu của khối này đặc biệt còn hạn chế trước biến động thị trường: tỷ lệ đóng cửa của doanh nghiệp siêu nhỏ năm vừa qua lên tới 22,7%, nhóm nhỏ và vừa là 12,7%.
Các doanh nghiệp SME cũng phải đối diện với khoảng trống tiếp cận tín dụng lớn. Số liệu từ Báo cáo Doanh nghiệp SME năm 2026 của FiinGroup chỉ ra rằng mặc dù Chính phủ và NHNN quyết liệt thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ doanh nghiệp SME tiếp cận được vốn vay ngân hàng chỉ ở mức 8,8% (tương đương khoảng 80.000 doanh nghiệp đang có dư nợ tín dụng). Tỷ lệ này giảm 0,5% so với năm 2025 và thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ tiếp cận vốn của khối doanh nghiệp lớn (đạt 47,1%).
Bên cạnh đó là rào cản 'nút thắt' tài sản thế chấp. Báo cáo PCI cho biết có tới 93,5% các khoản vay tại Việt Nam hiện nay yêu cầu phải có tài sản thế chấp, vượt trội so với khu vực. Trong khi đó, nhiều SME thiếu bất động sản có hồ sơ pháp lý đầy đủ hoặc tài sản đã được dùng để bảo đảm nghĩa vụ khác. Việc nhận tài sản động sản và quyền tài sản như khoản phải thu, quyền phát sinh từ hợp đồng, hàng tồn kho còn hạn chế do cơ chế định giá, kiểm soát và xử lý tài sản chưa đồng bộ..
Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank Enterprise Surveys), 21,2% doanh nghiệp Việt Nam xác định tiếp cận tín dụng là rào cản lớn nhất đối với hoạt động sản xuất kinh doanh - tỷ lệ này cao hơn nhiều so với Malaysia (15,6%) và Thái Lan (7,7%).
Ngoài ra, theo khảo sát với các hội viên, báo cáo Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam cũng cho biết thực trạng hiệu quả của các định chế hỗ trợ còn hạn chế. Khả năng các quỹ hỗ trợ như Quỹ Phát triển DNNVV, Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV tại các địa phương (hoạt động theo Nghị định 34/2018/NĐ-CP) còn thấp. Quy trình thẩm định, điều kiện bảo lãnh và yêu cầu về tài sản bảo đảm trong một số trường hợp còn trùng lặp với quy trình của tổ chức cho vay, làm gia tăng thời gian và chi phí tiếp cận vốn của doanh nghiệp...
5 điểm nghẽn hạn chế năng lực tiếp cận vốn
Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam đánh giá, thực trạng hạn chế về năng lực tiếp cận vốn, trước hết là vốn tín dụng ngân hàng, xuất phát từ một số điểm nghẽn chủ yếu.
Thứ nhất là mâu thuẫn nội tại từ phía các ngân hàng thương mại giữa hiệu quả kinh doanh và nhu cầu hỗ trợ doanh nghiệp SME.
Các ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc thị trường, tuân thủ nghiêm ngặt các tỷ lệ an toàn vốn tín dụng, chất lượng tín dụng. NHTM không thể hạ chuẩn cho vay vì khối tín dụng phải chịu trách nhiệm pháp lý cá nhân nếu phát sinh nợ xấu. Chi phí thẩm định, quản lý một khoản vay nhỏ của doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tốn kém nhân lực tương đương một khoản vay lớn nhưng hiệu quả kinh doanh thường thấp hơn, rủi ro cao hơn.
Thứ hai là hạn chế từ phía doanh nghiệp. Một bộ phận SME vận hành theo mô hình tinh gọn nhưng năng lực quản trị và tính minh bạch còn hạn chế tỷ lệ giao dịch tiền mặt cao; dòng tiền cá nhân và dòng tiền doanh nghiệp chưa được tách bạch.
Đặc biệt, "bẫy tự thân" từ việc chủ động tối thiểu hóa doanh thu, lợi nhuận trên báo cáo tài chính để giảm nghĩa vụ nộp thuế đã vô tình hạn chế năng lực chứng minh dòng tiền trả nợ của doanh nghiệp khi nộp hồ sơ vay vốn ngân hàng.
Một thách thức khác là điểm nghẽn về "bất đối xứng thông tin" giữa bên vay và bên cho vay. Do ngân hàng không thể tin tưởng số liệu tài chính tự lập của doanh nghiệp không đại chúng, còn doanh nghiệp không thể đáp ứng các tiêu chuẩn thẩm định khắt khe, hai bên rơi vào vòng lặp bế tắc. Hệ quả là ngân hàng buộc phải sử dụng tài sản thế chấp (bất động sản) làm chiếc phao cứu sinh an toàn cuối cùng (chiếm tới 93,5% các khoản vay tại Việt Nam), chặn đứng cơ hội tiếp cận vốn của những doanh nghiệp có phương án kinh doanh tốt nhưng thiếu đất đai.
Các doanh nghiệp SME cũng đối diện rào cản của kênh IPO, niêm yết và trái phiếu. Tiêu chuẩn để lên sàn chứng khoán yêu cầu quy mô vốn điều lệ rất lớn, phải có lãi liên tục, không lỗ lũy kế... Đi kèm với đó là chi phí kiểm toán độc lập, công bố thông tin theo chuẩn quốc tế chặt chẽ và thời gian chuẩn bị kéo dài từ 12 đến 24 tháng... dẫn đến giải pháp huy động vốn trung và dài hạn trên thị trường vốn không thực tế với số đông khối SME.
Tương tự, các điều kiện về phát hành trái phiếu riêng lẻ, yêu cầu bắt buộc phải có xếp hạng tín nhiệm... khiến việc phát hành trái phiếu đối với nhóm này gần như không thực tế, trừ khi doanh nghiệp SME nằm trong hệ sinh thái doanh nghiệp lớn và được bảo lãnh thanh toán.
Ngoài ra là sự lệch pha về khẩu vị của các Quỹ đầu tư nước ngoài: Các quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc quỹ tư nhân ngoại quốc chỉ tìm kiếm các doanh nghiệp công nghệ có khả năng tăng trưởng đột biến hoặc doanh nghiệp lớn đầu ngành để dễ thoái vốn và tìm kiếm lợi nhuận đầu tư, ít ưu tiên khối SME truyền thống. Đồng thời, các dòng vốn tài trợ quốc tế hiện nay đòi hỏi các chứng chỉ đáp ứng tiêu chuẩn Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) ngày càng cao, trong khi năng lực đáp ứng của nhiều DNNVV còn hạn chế...
Đề xuất nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn, tái chiết khấu chuyên biệt với các NHTM tích cực giải ngân cho DNNVV
Trong văn bản gửi NHNN, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam đã đưa ra kiến nghị một số nhóm giải pháp hành động thực chất, bám sát năng lực triển khai thực tế của Việt Nam dưới sự điều hành vĩ mô của NHNN, tính linh hoạt của các ngân hàng thương mại, cơ chế huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng truyền thống và năng lực quản trị của doanh nghiệp...
Về phía NHNN, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam đề xuất nhà điều hành nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn hỗ trợ tín dụng DNNVV theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW. Cụ thể là nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn, tái chiết khấu chuyên biệt dành riêng cho các NHTM tích cực giải ngân cho khối DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và xuất khẩu. Lãi suất tái cấp vốn ưu đãi này sẽ được chuyển hóa trực tiếp thành mức giảm lãi suất cho vay thực tế cho nhóm SME.
Đồng thời, kiến nghị NHNN ban hành Khung hướng dẫn kỹ thuật cho vay dựa trên dòng tiền (Cash-flow based lending), hướng dẫn hoặc cẩm nang chung về thẩm định dòng tiền.
Đề xuất NHNN cho phép các NHTM sử dụng lịch sử giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt, dòng tiền qua tài khoản chuyên dùng của doanh nghiệp tại ngân hàng làm căn cứ xếp hạng tín dụng và xem xét cấp tín chấp ngắn hạn mà không bị ràng buộc cứng nhắc bởi chỉ tiêu tỷ lệ tài sản bảo đảm. Việc cấp tín dụng được thực hiện theo quy định pháp luật, khẩu vị rủi ro và thẩm quyền quyết định của từng NHTM.
Ngoài ra, đề xuất NHNN chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ sửa đổi cơ chế hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương theo Nghị định số 34/2018/NĐ-CP theo hướng giảm trùng lặp trong thẩm định, phân định rõ trách nhiệm và cơ chế chia sẻ rủi ro. Có thể xem xét tỷ lệ bảo lãnh từ 70% đến 80% giá trị khoản vay đối với hồ sơ đủ điều kiện, trên cơ sở kết quả thẩm định của NHTM và cơ chế kiểm soát độc lập của Quỹ, đồng thời hạn chế yêu cầu doanh nghiệp bảo đảm tài sản lần thứ hai tại Quỹ.
Chủ trì hỗ trợ các NHTM và các tổ chức tài chính phi ngân hàng trong việc kết nối các nguồn dữ liệu về tín dụng - tài chính - dòng tiền của SME để rút ngắn “khoảng cách" giữa bên vay và bên cho vay.
Về phía các NHTM, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam kiến nghị phát triển sản phẩm tín dụng dựa trên dữ liệu VietQR / POS cho hộ kinh doanh và DN siêu nhỏ.
Cụ thể, đề xuất NHTM hợp tác trực tiếp với NAPAS, các ví điện tử và các nền tảng công nghệ bán hàng và kinh doanh trực tuyến (như Shopee, GrabFood, TikTok Shop, Agoda, Booking.com, v.v...) để tự động đối soát kết quả doanh thu thanh toán không dùng tiền mặt trong 3-6 tháng của hộ kinh doanh/SME. Dữ liệu này có thể được sử dụng để đánh giá dòng tiền trong việc cấp hạn mức thấu chỉ tín chấp quy mô nhỏ và ngắn hạn ngắn hạn phục vụ vốn lưu động ngay trên ứng dụng ngân hàng, rút ngắn thời gian thẩm định và phê duyệt.
Đồng thời, đề xuất giải pháp cho vay dựa trên hóa đơn điện tử đối soát thuế tự động. Trong bối cảnh Việt Nam đã áp dụng hóa đơn điện tử bắt buộc, các NHTM nghiên cứu xây dựng hệ thống công nghệ kết nối trực tiếp với cổng dữ liệu hóa đơn điện tử của Tổng cục Thuế (dưới sự ủy quyền của DN vay). Ngân hàng thẩm định tính xác thực của hóa đơn đầu ra từ các đối tác lớn, uy tín và thực hiện giải ngân ngay dựa trên quyền đòi nợ từ hóa đơn này, kiểm soát rủi ro bằng cách yêu cầu dòng tiền thanh toán của bên mua chuyển trực tiếp vào tài khoản phong tỏa mở tại ngân hàng cho vay.
Cùng đó là một số kiến nghị với NHTM liên quan đến áp dụng mô hình liên kết 3 bên quản lý kho hàng bảo đảm; đẩy mạnh mô hình Tài trợ Chuỗi cung ứng (Supply Chain Finance); xác lập tỷ trọng vốn tín dụng cụ thể thực chất cho khối SME phù hợp với chiến lược kinh doanh, năng lực vốn và khẩu vị rủi ro của từng ngân hàng; thiết kế các gói tín dụng cho nhóm khách hàng trọng điểm, có ưu tiên cho SME...
Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam cũng đề xuất một số giải pháp khác nhằm đa dạng hóa nguồn vốn phi tín dụng.
Trong đó bao gồm việc thành lập các "Quỹ tương trợ vốn nội bộ" cấp hiệp hội địa phương để đáp ứng một phần các nhu cầu vốn nóng, vốn ngắn hạn tính bằng ngày của các tiểu thương, làng nghề hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ. Các thành viên tự góp vốn, tự giám sát uy tín cộng đồng và hỗ trợ cho vay ngắn hạn dưới 30 ngày với quy trình duyệt trong ngày để loại bỏ triệt để tín dụng đen nông thôn.
Khơi thông nguồn vốn từ các Quỹ tài chính phi ngân hàng; thông qua đề xuất Bộ Tài chính hoàn thiện hành lang pháp lý cho phép các Quỹ hưu trí tự nguyện, Quỹ tín dụng, Quỹ bảo hiểm thương mại và các Quỹ đầu tư ủy thác được đa dạng hóa danh mục đầu tư bằng cách mua chứng chỉ quỹ hỗ trợ SME hoặc đầu tư gián tiếp vào cổ phần doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa thông qua các công ty quản lý quỹ chuyên biệt.
Phát triển thị trường Cho thuê tài chính (Financial Leasing), thông qua kiến nghị áp dụng ưu đãi thuế GTGT hoặc thuế TNDN cho các công ty cho thuê tài chính khi đầu tư trang thiết bị, máy móc, phòng thí nghiệm... cho SME thuê lại. Đây là kênh dẫn vốn phi tín dụng hiệu quả, giúp doanh nghiệp trang bị dây chuyền sản xuất mới mà không phải sửdụng bất động sản làm tài sản bảo đảm.
Hay một giải pháp khác là thí điểm Trái phiếu gộp cho nhóm SME (SME Basket Bond). Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam kiến nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu khung pháp lý cho sản phẩm trái phiếu gộp; khuyến khích các NHTM lớn hoặc công ty chứng khoán đứng ra bảo lãnh, thiết kế gói phát hành trái phiếu chung (Basket Bond) gom nhu cầu huy động vốn trung - dài hạn của 5-10 doanh nghiệp SME cùng ngành sản xuất uy tín. Việc gom chung này giúp nâng cao quy mô phát hành, giảm chi phí tuân thủ pháp lý và tăng tính thanh khoản thu hút các nhà đầu tư tổ chức.
Về phía doanh nghiệp vay vốn, Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam cũng kiến nghị một số giải pháp liên quan đến quản trị dòng tiền minh bạch; chuẩn hóa quản trị và kế toán tối giản và hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp đầu chuỗi.
Để chứng minh khả năng trả nợ mà không tốn chi phí kiểm toán độc lập đắt đỏ, các doanh nghiệp SME và hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam cần tăng tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt.. Doanh nghiệp cần đưa toàn bộ dòng doanh thu bán hàng, thanh toán lương, thanh toán nhà cung cấp qua tài khoản thanh toán chính thức mở tại ngân hàng. Dữ liệu dòng tiền luân chuyển liên tục, minh bạch chính là "tài sản thế chấp số" giá trị để ngân hàng phê duyệt tín dụng.
Doanh nghiệp cũng cần bảo đảm sự nhất quán giữa số kế toán, hồ sơ thuế và dữ liệu quản trị nội bộ. Ứng dụng các phần mềm kế toán số, hóa đơn điện tử, quản trị dòng tiền tự động giúp lưu trữ số liệu khoa học, sẵn sàng cung cấp cho ngân hàng đối soát trực tuyến tức có nhu cầu phát sinh vốn vay.
Ngoài ra, chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật để trở thành mắt xích bền vững trong chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, từ đó tận dụng uy tín của doanh nghiệp đầu chuỗi để tiếp cận các gói tài trợ chuỗi ưu đãi từ NHTM.
PV /Doanh Nhân Việt Nam
Nguồn: https://doanhnhanvn.vn/hoi-dntnvn-de-xuat-nghien-cuu-co-che-tai-cap-von-tai-chiet-khau-chuyen-biet-voi-ngan-hang-tich-cuc-cho-vay-dnnvv.html - 13:35 | 17/09/2026