TACN - Dabaco kiến nghị điều tiết tổng đàn lợn, đổi mới phòng chống dịch tả lợn châu Phi, siết nhập khẩu thịt, nới quy chuẩn nước thải chăn nuôi.
Sáng 27/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công an tổ chức Hội nghị Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp (khu vực miền Bắc), với hơn 450 đại biểu. Hội nghị do các Ủy viên Trung ương Đảng: Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng và Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long đồng chủ trì. Tại đây, ông Nguyễn Như So, Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Việt Nam trình bày tham luận về ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong chăn nuôi lợn, gia cầm và nêu nhiều kiến nghị cho ngành, từ nguy cơ dư cung thịt lợn, cách tiếp cận dịch tả lợn châu Phi đến áp lực nhập khẩu và chi phí môi trường.

Ông Nguyễn Như So, Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Việt Nam phát biểu tại Hội nghị
Nguy cơ dư cung khi đàn lợn vẫn tăng
Ông So cảnh báo ngành chăn nuôi lợn có thể rơi vào thế dư cung. Năm 2025, nhu cầu thịt lợn cả nước khoảng 4 triệu tấn, sản lượng trong nước đạt 3,94 triệu tấn, chưa tính thịt nhập khẩu. Sáu tháng đầu năm 2026, đàn lợn vẫn tăng 2,2% và sản lượng thịt hơi tăng 4,8% so với cùng kỳ.
Dẫn kinh nghiệm của Trung Quốc, ông đề nghị bổ sung vào luật nguyên tắc điều phối tổng đàn và năng lực sản xuất theo ngành hàng, vùng và thời kỳ. Chính phủ sẽ căn cứ cung - cầu để đặt chỉ tiêu phát triển đàn, kiểm soát việc tăng công suất, xây mới hoặc mở rộng trang trại quy mô lớn, và áp dụng hạn ngạch có thời hạn khi cần. Dữ liệu “sống” về đàn vật nuôi cần được số hóa để phục vụ việc này.
Đề nghị đổi mới cách tiếp cận dịch tả lợn châu Phi
Về dịch tả lợn châu Phi (ASF), ông So cho rằng các cơ quan quản lý chuyên ngành cần rà soát, đổi mới chính sách phòng, chống và xử lý tình huống theo hướng khoa học, linh hoạt, dựa trên bằng chứng dịch tễ và phù hợp thực tiễn chăn nuôi. Theo ông, ASF không lây sang người nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn lợn, trong khi vi-rút liên tục biến đổi, xuất hiện các biến chủng và chủng tái tổ hợp với độc lực khác nhau. Ông nêu bốn nhóm kiến nghị:
- Phòng bệnh chủ động là nền tảng. Cần coi an toàn sinh học, vệ sinh thú y, kiểm soát người và phương tiện ra vào trại, nâng cao sức khỏe đàn là giải pháp gốc. Khi có dịch, cần tăng xét nghiệm, truy vết, khoanh vùng và đánh giá nguy cơ để xử lý theo đơn vị dịch tễ phù hợp, tránh tiêu hủy tràn lan.
- Xử lý theo đúng tính chất, mức độ. ASF không phải bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên người và không lây sang vật nuôi khác lợn. Ông cho rằng việc một con lợn khỏe mạnh mang virus ASF hiện nay là bình thường, thậm chí xét nghiệm trên người có tiếp xúc cũng có thể cho kết quả dương tính. Vì vậy cần quy định pháp luật phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm khi phát hiện động vật dương tính, tránh gây hoang mang cho người nuôi. Ông cũng đề nghị nghiên cứu sửa luật để cho phép tái chế lợn nhiễm ASF làm thức ăn cho loài động vật khác. Theo ông, cách này giảm rủi ro nhiễm chéo và ô nhiễm môi trường, vì quỹ đất chôn lấp không phải nơi nào cũng thuận lợi và nước từ nơi chôn lấp có thể phát tán vi-rút.
- Tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Cần cập nhật nghiên cứu vắc-xin để có biện pháp phòng bệnh hiệu quả hơn.
- Hỗ trợ và truyền thông minh bạch. Cần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ và truyền thông minh bạch để kiểm soát dịch hiệu quả, tránh gây hoang mang dư luận, giảm thiệt hại và bảo vệ sinh kế của người chăn nuôi.

Ông Nguyễn Như So, Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Việt Nam tại hội nghị
Thịt nhập khẩu tăng nhanh
Dabaco và các doanh nghiệp trong nước cùng hàng vạn hộ nông dân chăn nuôi khác đang rất lo ngại sức ép từ hàng nhập khẩu. Năm 2025, Việt Nam nhập khoảng 1,95 tỷ USD thịt, sản phẩm từ thịt và phụ phẩm ăn được, tăng 11,6% so với năm trước, trong khi xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi chỉ khoảng 628 triệu USD. Sáu tháng đầu năm 2026, giá trị nhập khẩu thịt và sản phẩm từ thịt tăng thêm 36,4%, lên 1,46 tỷ USD.
Theo ông So, doanh nghiệp trong nước phải chịu chi phí đầu vào cao và các yêu cầu khắt khe về dịch bệnh, an toàn thực phẩm, môi trường. Ông đề nghị rà soát chính sách nhập khẩu, dùng hiệu quả các biện pháp kỹ thuật phù hợp cam kết quốc tế, tăng kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc, đồng thời xử lý nghiêm nhập lậu, gian lận thương mại.
Quy chuẩn nước thải đẩy chi phí lên
Một điểm nghẽn khác là QCVN 62:2025/BTNMT. Quy chuẩn này giới hạn tổng nitơ (TN) ở mức không quá 20 mg/lít với cột A và 60 mg/lít với cột B, chặt hơn một số nước trong khu vực. Theo tham luận, ở cột B Nhật Bản quy định 120 mg/lít và Trung Quốc 80 mg/lít. Với điều kiện công nghệ hiện nay, chi phí đầu tư xử lý nước thải tăng khoảng 1,5 - 2 lần, chi phí vận hành tăng 2 - 3 lần, khiến doanh nghiệp đối mặt nguy cơ vi phạm pháp luật môi trường. Ông đề nghị điều chỉnh giới hạn nitơ, có lộ trình chuyển tiếp và phân loại yêu cầu xả thải theo quy mô, công nghệ và mức độ rủi ro của từng cơ sở.
Hơn 70% nguyên liệu phải nhập khẩu: bài toán an ninh chuỗi cung ứng
Ngành thức ăn chăn nuôi và dầu thực vật phụ thuộc trên 70% vào nguyên liệu nhập khẩu như ngô, đậu tương, khô dầu đậu tương và các loại hạt có dầu, nên dễ bị tác động bởi giá và nguồn cung quốc tế. Dabaco đề nghị Nhà nước đẩy mạnh chọn tạo giống, phát triển vùng nguyên liệu tập trung và khuyến khích doanh nghiệp liên kết đầu tư vùng trồng, tận dụng chất thải chăn nuôi để giảm hóa chất.
Về dài hạn, ông đề xuất đầu tư chế biến sâu thịt lợn gắn với giết mổ tập trung, kho lạnh và logistics lạnh đạt chuẩn quốc tế. Truy xuất nguồn gốc cần được chuẩn hóa toàn chuỗi, kèm theo các vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh đạt chuẩn xuất khẩu để mở rộng đầu ra và giảm áp lực dư cung.
Từ phòng thí nghiệm đến chuồng trại: đường đi cần thông thoáng hơn
Hai kiến nghị khác liên quan trực tiếp đến đầu tư công nghệ. Dabaco đề nghị chính sách ổn định, liên tục đối với doanh nghiệp chăn nuôi công nghệ cao theo chuỗi khép kín, gồm tín dụng dài hạn, ưu đãi thuế, tiền thuê đất và hỗ trợ nghiên cứu. Tập đoàn cũng mong Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy nhanh thẩm định, công nhận các dòng, giống lợn và gà do doanh nghiệp tự chọn tạo, để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, bảo đảm tài sản trí tuệ và giảm phụ thuộc giống nhập khẩu.
Quy mô của một “đại bàng” chăn nuôi
Sau 30 năm, Dabaco vận hành chuỗi 3F+ (Feed - Farm - Food - Future) với 60 đơn vị sản xuất, kinh doanh. Tập đoàn cán mốc doanh thu 1 tỷ USD (trên 25.000 tỷ đồng) năm 2024 và đặt mục tiêu 1,5 tỷ USD (38.000 - 40.000 tỷ đồng) vào năm 2030. Năm 2026, tổng tài sản trên 18.000 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu trên 8.000 tỷ đồng.
Đàn lợn nái của Dabaco khoảng 80.000 con, năng suất bình quân 30,5 con cai sữa/nái/năm. Đàn gà bố mẹ khoảng 700.000 con, cung ứng khoảng 60 triệu con giống mỗi năm. Hệ thống nhà máy thức ăn chăn nuôi có công suất thiết kế khoảng 1,5 triệu tấn/năm, nhà máy dầu thực vật ép 1.500 tấn đậu nành/ngày. Nhà máy vắc-xin DACOVET công suất thiết kế 200 triệu liều/năm, và tập đoàn dự kiến đầu tư viện nghiên cứu cùng nhà máy vắc-xin quy mô khoảng 2 tỷ liều/năm.
Trong giai đoạn tới, Dabaco đề xuất bốn hướng nghiên cứu: công nghệ sản xuất vắc-xin phòng bệnh do vi-rút, vi khuẩn trên lợn và gà; hệ thống đánh giá năng suất cá thể tự động để cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của lợn Duroc; công nghệ bộ gen trong chọn tạo dòng lợn Yorkshire; và cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn ở gà Mía, gà Hồ qua chỉ số RFI.
Hội nghị đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng ngành lên trên 55%, và bảo đảm ít nhất 60% kết quả nghiên cứu được ứng dụng, chuyển giao hoặc thương mại hóa. Những kiến nghị từ doanh nghiệp đầu ngành như Dabaco cho thấy, để đạt các mục tiêu đó, bên cạnh công nghệ còn cần cơ chế điều tiết thị trường, chính sách thương mại và quy chuẩn môi trường tương thích.
Chí Đức /Tạp chí điện tử
Thức ăn chăn nuôi Việt Nam
Nguồn: https://feed.com.vn/dabaco-kien-nghi-tong-dan-doi-moi-phong-chong-dich-ta-lon-chau-phi-siet-nhap-khau-thit-va-noi-quy-chuan-nuoc-thai-d6320.html - 27/10/2026 15:08 (GMT +7)