Dù kinh tế vĩ mô đang ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, khu vực doanh nghiệp vẫn đối mặt không ít áp lực về chi phí, thị trường và khả năng tiếp cận nguồn lực.
Khu vực doanh nghiệp đối diện nhiều thách thức
Trong thời gian qua, cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân đã nhận được nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực từ Chính phủ cùng các bộ, ngành và địa phương. Những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đã góp phần củng cố niềm tin của thị trường, tạo động lực thúc đẩy làn sóng thành lập doanh nghiệp mới tăng mạnh.
Theo Cục Thống kê, trong 4 tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 119.400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 77.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn gần 785.400 tỷ đồng, tăng 50,7% về số lượng.
Mặc dù vậy, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao, lên tới khoảng 108.900 doanh nghiệp. Trong đó, 72.200 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, gần 21.500 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ giải thể và gần 15.200 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng tới 98,7% so với cùng kỳ năm 2025.

TS. Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: TL
Tính bình quân, mỗi tháng có khoảng 29.900 doanh nghiệp gia nhập thị trường nhưng cũng có tới 27.200 doanh nghiệp rút lui, cho thấy sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp vẫn đối mặt nhiều thách thức.
Liên quan đến vấn đề này, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết: Khu vực kinh tế tư nhân đang phát triển ngày càng năng động với số lượng doanh nghiệp liên tục gia tăng. Đồng thời, khu vực này đóng góp đáng kể cho nền kinh tế, nhưng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn hạn chế.
Ông Tuấn cho rằng một trong những điểm nghẽn lớn là cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý khi doanh thu của nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn vẫn tập trung vào lĩnh vực tài chính và bất động sản, trong khi công nghiệp chế biến, chế tạo - lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao - lại chiếm tỷ trọng khiêm tốn.
Bên cạnh đó, ông cho rằng, quy mô nhỏ vẫn là hạn chế cố hữu của khu vực tư nhân. Hiện khoảng 97% doanh nghiệp là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phần lớn sử dụng dưới 10 lao động. Quy mô nhỏ khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu có xu hướng giảm, trong khi năng suất lao động của khu vực ngoài nhà nước vẫn thấp hơn đáng kể so với khu vực FDI và doanh nghiệp nhà nước.
Vì vậy, ông cho rằng, trong dài hạn, Việt Nam cần củng cố nội lực doanh nghiệp trong nước thay vì phụ thuộc quá nhiều vào các nguồn lực bên ngoài.
Sử dụng các chính sách hỗ trợ cần hướng tới tạo sức bật thực chất
Để khắc phục những khó khăn trên và thúc đẩy khu vực doanh nghiệp phát triển, TS. Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia nhận định: Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động mạnh bởi lạm phát, xung đột địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, Việt Nam cần thay đổi tư duy điều hành chính sách theo hướng ưu tiên chất lượng tăng trưởng thay vì chỉ tập trung vào các mục tiêu ngắn hạn.
Phân tích rõ hơn về vấn đề này, TS. Lê Xuân Nghĩa cho hay: Khác với các giai đoạn kích thích kinh tế trước đây, dư địa chính sách hiện nay không còn quá dồi dào, vì vậy việc sử dụng các công cụ tài khóa và tiền tệ cần hướng tới tạo “sức bật thực chất” cho nền kinh tế, thay vì thúc đẩy tăng trưởng bằng mọi giá.
Trong đó, ưu tiên lớn nhất hiện nay là tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là ổn định mặt bằng lãi suất, tỷ giá và kiểm soát kỳ vọng lạm phát. Bởi, niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư phụ thuộc rất lớn vào sự ổn định của môi trường vĩ mô.
“Nếu lãi suất biến động mạnh, tỷ giá thiếu ổn định hoặc áp lực lạm phát gia tăng, doanh nghiệp sẽ không dám mở rộng đầu tư dài hạn mà có xu hướng co cụm để phòng thủ”, ông nói.
Trong bối cảnh đó, việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao bằng mọi giá không còn phù hợp. Theo ông, tăng trưởng tín dụng chỉ thực sự có ý nghĩa khi dòng vốn được phân bổ vào các khu vực tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế.
“Nếu vốn tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực mang tính đầu cơ tài sản hoặc các hoạt động ngắn hạn, nền kinh tế có thể tăng trưởng trong ngắn hạn nhưng sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro và khó tạo ra động lực phát triển bền vững”, TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh.
Vì vậy, dòng vốn trong giai đoạn tới cần được ưu tiên cho các lĩnh vực như công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ cao, chuyển đổi số, năng lượng tái tạo, kinh tế xanh và hạ tầng chiến lược. Đây là những ngành có khả năng nâng cao năng suất lao động, cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia và giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo ông, nếu Việt Nam tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào các ngành thâm dụng lao động và gia công giá rẻ, dư địa tăng trưởng trong tương lai sẽ ngày càng thu hẹp.
Bên cạnh chính sách tiền tệ, TS. Lê Xuân Nghĩa cũng nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của chính sách tài khóa và đầu tư công trong việc tạo động lực cho tăng trưởng.

Song song với các chính sách hỗ trợ tài khóa và tiền tệ, Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm điều kiện kinh doanh. Ảnh: TL
Ông cho rằng trong bối cảnh khu vực tư nhân còn gặp khó khăn về dòng tiền và sức cầu thị trường chưa phục hồi mạnh, đầu tư công cần đóng vai trò “vốn mồi” để kích hoạt các nguồn lực xã hội. Các dự án hạ tầng lớn về giao thông, logistics, năng lượng, hạ tầng số nếu được đẩy nhanh tiến độ sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa rất lớn tới sản xuất, việc làm và tiêu dùng.
Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn hiện nay không nằm ở việc thiếu vốn mà nằm ở tốc độ giải ngân và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Nhiều dự án đầu tư công vẫn chậm triển khai do vướng mắc thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng hoặc quy trình hành chính kéo dài. Nếu không tháo gỡ được các điểm nghẽn này, dòng vốn đầu tư công sẽ không thể phát huy hiệu quả kích thích như kỳ vọng.
Ngoài ra, TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh cải cách thể chế vẫn là yếu tố mang tính quyết định đối với sức bật của nền kinh tế. Theo ông, nếu môi trường kinh doanh còn tồn tại nhiều rào cản, thủ tục hành chính phức tạp và chi phí tuân thủ cao thì doanh nghiệp sẽ khó phục hồi niềm tin để mở rộng đầu tư.
Vì vậy, song song với các chính sách hỗ trợ tài khóa và tiền tệ, Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm điều kiện kinh doanh, nâng cao tính minh bạch và ổn định của chính sách để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho khu vực tư nhân.
“Nền kinh tế Việt Nam hiện không thiếu tiềm năng tăng trưởng, nhưng để tạo ra bước chuyển thực chất cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ ngắn hạn sang xây dựng nền tảng dài hạn cho doanh nghiệp và thị trường. Khi doanh nghiệp có niềm tin vào triển vọng kinh tế, môi trường chính sách ổn định và khả năng tiếp cận vốn hợp lý, họ sẽ mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ và tạo thêm việc làm, từ đó hình thành động lực tăng trưởng bền vững cho giai đoạn tới”, ông Nghĩa nói.
Lê Xuân /NB&CL