Việc Hoa Kỳ siết chặt các yêu cầu liên quan đến lao động cưỡng bức đang đặt ra tiêu chuẩn mới đối với hàng hóa nhập khẩu.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tăng cường truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng và kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu đầu vào để hạn chế rủi ro thương mại, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Siết yêu cầu về chuỗi cung ứng
Ngày 23-7 vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ ban hành Bản ghi nhớ gửi Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) về các hành động theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế liên quan đến việc chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức.
Theo Bản ghi nhớ, Việt Nam nằm trong danh sách các nền kinh tế thuộc phạm vi điều tra. Đối với các nền kinh tế chưa có hoặc chưa thực thi hiệu quả cơ chế ngăn chặn hàng hóa có yếu tố lao động cưỡng bức, USTR được chỉ đạo áp dụng mức thuế 12,5% theo Mục 301. Theo cách phân loại này, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam thuộc nhóm chịu mức thuế 12,5%, trừ các sản phẩm được miễn theo Phụ lục của Bản ghi nhớ.
.jpg)
Doanh nghiệp ngành dệt may cần xác định nguồn gốc của bông, xơ, sợi, vải, thuốc nhuộm và các nguyên phụ liệu. Ảnh: Lưu Quyên
Điểm đáng chú ý là Bản ghi nhớ nhấn mạnh hàng hóa được sản xuất "toàn bộ hoặc một phần" bằng lao động cưỡng bức. Điều này cho thấy rủi ro không chỉ nằm ở công đoạn sản xuất cuối cùng mà còn có thể phát sinh từ nguyên liệu, linh kiện, bán thành phẩm hoặc bất kỳ khâu nào trong chuỗi cung ứng.
Bản ghi nhớ cũng đề cập cơ chế hạn ngạch thuế quan đối với một số mặt hàng dệt may gắn với việc sử dụng bông và nguyên liệu dệt may của Hoa Kỳ, phản ánh xu hướng ngày càng coi trọng nguồn gốc nguyên liệu trong chuỗi sản xuất toàn cầu.
Mặc dù không quy định trực tiếp quy trình truy xuất nguồn gốc đối với doanh nghiệp Việt Nam, để chứng minh sản phẩm không được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức, doanh nghiệp phải có khả năng cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguồn gốc nguyên liệu, nhà cung cấp, địa điểm sản xuất và các công đoạn hình thành sản phẩm.
Yêu cầu này đặc biệt quan trọng đối với các ngành có chuỗi cung ứng nhiều tầng hoặc sử dụng nguyên liệu từ nhiều quốc gia như dệt may, da giày, điện tử, năng lượng, thiết bị điện, sản phẩm sử dụng linh kiện bán dẫn, khoáng sản và một số mặt hàng nông sản.
Đối với ngành dệt may, doanh nghiệp cần truy xuất từ bông, xơ, sợi, vải, thuốc nhuộm đến các nguyên phụ liệu; còn ngành điện tử và năng lượng cần kiểm soát cả linh kiện, vật liệu bán dẫn, pin, tấm quang điện, khoáng sản và các nguyên liệu đầu vào quan trọng.
Chủ động chuẩn hóa dữ liệu, nâng sức cạnh tranh
Song song với yêu cầu từ thị trường Hoa Kỳ, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BCT quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Theo đó, việc truy xuất nguồn gốc được áp dụng bắt buộc đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao; các nhóm hàng khác được khuyến khích thực hiện.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương được vận hành tập trung tại địa chỉ www.VeriGoods.vn
Doanh nghiệp có thể khai báo trực tiếp trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương hoặc xây dựng hệ thống truy xuất nội bộ có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống của Bộ, đồng thời bảo đảm yêu cầu về bảo mật thông tin và an ninh mạng. Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương thực hiện việc tiếp nhận, lưu trữ, quản lý dữ liệu và tạo lập mã phục vụ hiển thị, tra cứu, liên kết dữ liệu tại địa chỉ www.VeriGoods.vn.

Tem xác thực điện tử của Bộ Công Thương. Nguồn: Bộ Công Thương
Trước những thay đổi trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ và lộ trình thực hiện Thông tư 31/2026/TT-BCT, doanh nghiệp cần chủ động rà soát và lập bản đồ chuỗi cung ứng; xác định nhà cung cấp trực tiếp và các nhà cung cấp ở tầng sâu hơn; thu thập, lưu giữ hồ sơ về nguồn gốc nguyên liệu, địa điểm sản xuất, vận chuyển và giao nhận.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phân loại nhà cung cấp theo mức độ rủi ro, tăng cường thẩm tra đối với nguồn hàng có cảnh báo; chuẩn hóa dữ liệu truy xuất theo từng sản phẩm hoặc lô hàng; kiểm soát chặt chẽ xuất xứ, không thực hiện hoặc tiếp tay cho hành vi chuyển tải, thay nhãn hoặc đóng gói đơn giản để khai báo xuất xứ Việt Nam.
Doanh nghiệp cũng cần đưa yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, lao động và xuất xứ vào hợp đồng với nhà cung cấp; chuẩn bị đầy đủ hồ sơ để kịp thời cung cấp khi cơ quan quản lý hoặc đối tác nhập khẩu yêu cầu xác minh. Hồ sơ cần bảo đảm khả năng truy xuất ngược từ sản phẩm cuối cùng về nguyên liệu và truy xuất xuôi từ nguyên liệu đến các lô hàng liên quan, bởi việc cung cấp thông tin chậm hoặc không chứng minh được mối liên hệ giữa chứng từ và hàng hóa thực tế có thể làm tăng nguy cơ lô hàng bị kiểm tra, tạm giữ hoặc từ chối nhập khẩu.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về xuất xứ, lao động, môi trường và trách nhiệm chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn là công cụ giúp doanh nghiệp quản trị rủi ro, bảo vệ thương hiệu và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường. Chủ động chuẩn hóa dữ liệu và minh bạch chuỗi cung ứng sẽ góp phần nâng cao uy tín hàng hóa Việt Nam và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trên thị trường quốc tế.
Lam Giang /Báo Hànộimới
Nguồn: https://hanoimoi.vn/truy-xuat-nguon-goc-giam-rui-ro-xuat-khau-sang-hoa-ky-1214038.html - 28/07/2026 - 10:38