Tỷ lệ lao động qua đào tạo của Việt Nam hiện chỉ đạt 26%, bằng đúng 1/3 so với các nền kinh tế phát triển nhanh như Hàn Quốc hay Singapore. Định vị trên bản đồ khu vực, năng suất và kỹ năng của chúng ta đang đối mặt với những chỉ số "biết nói" đầy thách thức, đòi hỏi một cuộc đổi mới về tư duy đào tạo nghề ngay tại đầu tàu kinh tế Hà Nội.
.jpg)
Khi bước vào nền kinh tế số, Việt Nam đối mặt với ba rào cản cốt lõi: Năng suất lao động, kỹ năng số và hạ tầng công nghệ. Là một trong những cơ sở đào tạo nghề lớn nhất Hà Nội, Trường Cao đẳng Công nghệ Cao Hà Nội (HHT) trong nhiều năm qua, đã và đang tìm nhiều giải pháp để sinh viên tốt nghiệp nhanh chóng tiếp cận được năng suất lao động khu vực Đông Nam Á.
Các chỉ số định vị toàn cầu
Đầu tiên là sự tụt hậu về năng suất lao động và kỹ năng 4.0. Năng suất lao động của Việt Nam hiện chỉ bằng 1/30 lần Singapore, 13% của Malaysia và 29% của Thái Lan; đồng thời nước ta chỉ đứng thứ 93/141 quốc gia về trụ cột "Kỹ năng". Thứ hai là tỷ lệ lao động qua đào tạo quá thấp, chỉ đạt 26% (bằng 1/3 Hàn Quốc), khiến nguồn nhân lực thiếu hụt kỹ năng công nghệ cao, chip bán dẫn hay AI.
Cuối cùng là nghịch lý trong đào tạo, thời lượng thực hành thực tế tại doanh nghiệp chỉ chiếm 20%, giáo trình nặng tính hàn lâm và thiếu hụt trang thiết bị tương thích 1:1 với thực tế sản xuất. Nếu không bứt phá mạnh mẽ về tự chủ giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, Việt Nam sẽ mắc kẹt ở phân khúc gia công giá trị thấp.

Tại "Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu trong thời kỳ 4.0" (GCI 4.0) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam xếp vị trí 93/141 quốc gia về trụ cột "Kỹ năng". Xét riêng trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN), năng lực cạnh tranh 4.0 của nước ta khiêm tốn đứng thứ 6, xếp sau hàng loạt quốc gia: Singapore (thứ 1), Malaysia (thứ 27), Thái Lan (thứ 40), Indonesia (thứ 50) và Philippines (thứ 64).
Khoảng cách này càng lộ rõ khi đặt lên bàn cân năng suất lao động (tính theo giá so sánh năm 2010). Dù năng suất lao động của Việt Nam đạt mức tăng trưởng bình quân 4,77%/năm trong giai đoạn 2011-2018 (vượt trội so với mức 3,17%/năm của giai đoạn 2007-2010), nhưng giá trị tuyệt đối vẫn ở mức rất thấp. Cụ thể, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/30 lần Singapore, 13% của Malaysia, 29% của Thái Lan và 44% của Philippines.
Đối với một đô thị đặc biệt, trung tâm kinh tế - chính trị như Hà Nội, việc thu hẹp khoảng cách này với các thủ đô trong khu vực như Singapore, Kuala Lumpur hay Bangkok là một áp lực hiển nhiên nếu Việt Nam muốn duy trì dòng vốn FDI chất lượng cao.
Lỗ hổng "80% lý thuyết" và nghịch lý "cung - cầu"
Nguyên nhân gốc rễ của sự chênh lệch này nằm ở mô hình giáo dục nghề nghiệp (GDNN) chậm đổi mới, nặng tính hàn lâm. Hiện nay, thời lượng đào tạo thực tế tại doanh nghiệp của học sinh, sinh viên học nghề chỉ chiếm khoảng 20% tổng chương trình, và hầu hết phải đợi đến kỳ học cuối cùng mới được tiếp cận môi trường sản xuất thực tế.
Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp tồn tại một khoảng cách lớn do thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích. Các doanh nghiệp ngần ngại tiếp nhận học sinh thực tập vì lo ngại ảnh hưởng dây chuyền sản xuất và rò rỉ bí mật công nghệ.

Hệ quả là, các cơ sở GDNN vẫn đang đào tạo theo những gì mình có (cung) chứ chưa đào tạo theo những gì thị trường cần (cầu). Cơ sở vật chất dù được đầu tư nhưng chủ yếu dừng lại ở thiết bị thực hành cơ bản, thiếu hụt thiết bị sản xuất thực tế tương đồng với doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng học viên ra trường phải "đào tạo lại" từ đầu.
Đến nay, HHT cơ bản đã xóa bỏ nghịch lý "cung - cầu" bằng cách kéo giảm tỷ lệ lý thuyết hàn lâm, nâng thời lượng thực hành thực tế lên trên 70%. HHT đồng bộ thiết bị dạy học tương thích 1:1 với dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp, thay vì chỉ đầu tư máy móc cơ bản. Nhờ mô hình hợp tác thực chất, học viên được thực tập trực tiếp tại các tập đoàn công nghệ ngay từ năm nhất thay vì đợi đến kỳ cuối, giúp 96% sinh viên tốt nghiệp có việc làm ngay mà không cần đào tạo lại.
"Lối thoát" từ mô hình tự chủ và đột phá chất lượng cao
Để giải quyết bài toán cốt lõi này, Hà Nội cần cơ cấu lại hệ thống 199 cơ sở GDNN trên địa bàn (trong đó có 19 trường cao đẳng, trung cấp công lập trực thuộc Thành phố). Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay của hệ thống này là mức độ tự chủ tài chính và tổ chức còn rất yếu.
Nguồn thu của các trường chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước (đang có xu hướng giảm dần) và học phí, trong khi nguồn thu từ dịch vụ, chuyển giao công nghệ hay mô hình "doanh nghiệp trong nhà trường" hầu như bằng không.
Thủ đô không thể đi tắt đón đầu nếu không có các mô hình đào tạo bứt phá, chuyển giao trực tiếp công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên vốn đang yếu về kỹ năng thực tế. Đầu tư mạnh mẽ vào tự chủ và chuẩn hóa chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế chính là chiếc chìa khóa duy nhất để san lấp khoảng trống năng suất với các nước trong khu vực.
NGƯT. TS Phạm Xuân Khánh
Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng HHT
Nguồn: Báo Hànộimới
Nguồn: https://hanoimoi.vn/nang-suat-lao-dong-viet-nam-trong-nen-kinh-te-so-1212870.html - 20/07/2026 16:37